Kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo tổ chức ôn thi tốt nghiệp THPT đối với môn Ngữ văn
Kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo tổ chức ôn thi
tốt nghiệp THPT đối với môn Ngữ Văn của trường THPT Phú Tân
1. Đặc điểm tình hình
1.1. Thuận lợi
- Được BGH nhà trường quan tâm chỉ đao trực tiếp,
thường xuyên kịp thời về chuyên môn. Đầu tư về công nghệ thông tin trong giảng
dạy, bắt nhịp với sự hiện đại và tạo được hứng thú cho người học và người dạy.
- GV trong tổ có năng lực chuyên môn vững vàng,
tâm huyết với nghề.
- Chất lượng điểm thi tốt nghiệp môn văn nhiều năm
liền đạt kết quả cao, điều này tạo động lực cho giáo viên giảng dạy, đặc biệt
là những giáo viên được phân công dạy lớp 12.
- Kinh tế của địa phương trong những
năm gần đây có chiều hướng phát triển, từ đó thu nhập của người dân có phần
được nâng lên, nhiều phụ huynh có điều kiện quan tâm, đầu tư vào việc học tập
của con em mình. Trường nằm trên địa bàn xã có truyền thống cách mạng,
phần lớn học sinh có tư chất tốt, hiếu học.
1.2. Khó khăn
- Việc triển
khai thực hiện Chương
trình GDPT 2018 bộc lộ nhiều khó khăn đối với nhà trường nói chung và bộ môn Ngữ Văn nói
riêng như: Cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài liệu tham khảo phục vụ
cho quá trình giảng dạy còn hạn chế.
- Nhìn chung điều kiện kinh tế - xã
hội, trình độ dân trí, cơ sở hạ tầng của địa phương tuy có bước phát triển,
song tiến độ vẫn còn chậm so với nhiều huyện, ngân sách của nhà nước đầu tư cho
nhà trường còn thấp; cơ chế, chính sách cho giáo dục còn bất cập, điều này ảnh
hưởng không nhỏ đến cho sự phát triển của nhà trường nói chung, tâm thế công tác
của cán bộ, viên chức và việc học tập của học sinh nói riêng.
2. Những giải pháp và
kết quả đạt được
2.1. Giải pháp
2.1.1. Đối
với tổ chuyên môn
- Trên cơ sở đề thi minh hoạ của
của Bộ GD&ĐT công bố hàng năm tổ đã
tiến hành họp phân tích chi tiết những điểm kế thừa, những điểm mới, về nội
dung, về các dạng câu hỏi trong đề thi để Tổ xây dựng kế hoạch dạy học; kế
hoạch ôn thi tốt nghiệp phù hợp với từng đối tượng học sinh.
- Họp tổ
chuyên môn để phân chia đối tượng học sinh theo từng nhóm từ đó đưa ra kế hoạch
ôn tập phù hợp, đặc biệt chú trọng đối tượng học sinh có nguy cơ bị điểm dưới
5.0; điểm liệt.
- Hàng
tháng họp tổ chuyên môn để giáo viên báo cáo tình hình học tập của các em để có
những chiến thuật ôn tập phù hợp.
2.1.2. Đối với giáo viên
Để nâng cao chất lượng điểm trung bình
thi THPT nhiều năm qua tổ Ngữ văn trường THPT Phú Tân đã đưa ra những giải pháp
sau:
Thứ nhất, Xây dựng kế hoạch dạy học: Căn cứ vào kế
hoạch giảng dạy, kế hoạch ôn thi của nhà trường, tổ chuyên môn, cấu trúc đề thi
của Bộ Giáo dục và Đào tạo giáo viên xây dựng riêng cho mình một kế hoạch giảng
dạy và ôn tập cụ thể, chi tiết đến từng chủ đề, chuyên đề và sát đối tượng. Mỗi
chuyên đề phải có phần lý thuyết và bài tập. Phần lý thuyết nên hệ thống lại
những kiến thức cơ bản, trọng tâm.
Thứ hai, Khơi dậy hứng thú cho người học: GV cần Xác định trước đối tượng
là những HS không có hứng thú với bộ môn Ngữ Văn, một số em hạn chế về ý thức,
năng lực, vậy nên GV buổi đầu dạy ôn thường dành một ít thời gian trò chuyện,
nắm bắt tâm lí, nguyện vọng HS. Trong quá trình giảng dạy GV thân thiện, gần
gũi, hướng dẫn cụ thể, quan tâm đến từng đối tượng HS. Tránh gắt gỏng, tạo tâm
lí thoải mái cho HS trong các giờ học. Mỗi GV với kinh nghiệm của mình sẽ hướng
dẫn HS cách ôn tập như lập bảng hệ thống kiến thức, làm sơ đồ tư duy.
Thứ ba, Giúp HS nắm vững kiến thức, chương trình: Nắm vững kiến thức, chương trình
ôn thi TN là bước đầu giúp các em HS tự tin khi làm bài.
Thứ tư, Giúp HS nắm vững kỹ năng làm bài: Có kiến thức chưa đủ, HS cần biết
kỹ năng làm bài mới nâng cao chất lượng bài thi. Trong kế hoạch dạy ôn của
mình, tổ Văn thường kết hợp gữa củng cố kiến thức với rèn luyện kỹ năng làm bài.
GV phải nắm cấu trúc đề minh họa của Bộ hằng năm, so sánh với đề các năm trước
để thấy sự thay đổi, kịp thời điều chỉnh.
Thứ năm, Giúp HS chuẩn bị tâm thế tốt khi vào phòng thi: Những ngày gần thi HS thường lo
lắng, chịu nhiều áp lực. GV khuyên HS cần nghỉ ngơi hợp lí, bảo đảm sức khỏe,
chuẩn bị đầy đủ các đồ dùng cần thiết, đến trường thi sớm.
Đọc kỹ đề trước khi làm bài, biết phân chia thời
gian hợp lí cho từng câu hỏi, tránh bỏ sót hoặc không làm đủ các yêu cầu của đề
ra. Có thể chọn câu dễ làm trước, câu khó làm sau. Cần đọc lại bài làm để sửa
chữa, bổ sung những sai sót.
2.2. Kết quả đạt được
|
Điểm TB của trường
|
So sánh của tỉnh
|
So sánh cả nước
|
|
2022
|
2023
|
2024
|
2022
|
2023
|
2024
|
2022
|
2023
|
2024
|
|
7.62
|
7.63
|
7.66
|
6.61
|
6.46
|
6.59
|
6.51
|
6.86
|
7.23
|
2.3. Đánh giá chung
2.3.1.
Ưu điểm
- Về phía giáo viên: Giáo viên chuyên tâm, chăm chỉ,
nhiệt tình, ham học hỏi, tìm hiểu, nghiên cứu. Giáo viên có nhiều cố gắng để
truyền đạt kiến thức cho học sinh. Trình độ chuyên môn giáo viên vững vàng. Chú
trọng đổi mới phương pháp dạy học tích cực, kiểm tra đánh giá học sinh. Ứng
dụng tốt công nghệ thông tin trong giảng dạy. Giáo viên khơi dậy được cảm xúc
của học sinh trong giờ học. Phân loại và chia đối tượng học sinh để thuận lợi
trong việc truyền đạt kiến thức. Bài giảng hấp dẫn phát huy được sự say mê, tạo
hứng thú học sinh. Giáo viên chú trọng rèn kỹ năng đọc - viết bằng cách luyện tập các
bài tập mẫu nhưng có sự chọn lọc, sắp xếp câu hỏi có hệ thống, đảm bảo theo
chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ, bám sát cấu trúc đề thi minh họa của Bộ giáo
dục và đào tạo.
- Về phía học sinh: Đa phần học sinh yêu thích môn
học, có cách cảm nhận tinh tế, sáng tạo. Có nhiều bài viết đặc sắc về cách lí
giải cuộc sống đa chiều phong phú. Học sinh say mê học tập. Học sinh tích cực,
chủ động rèn kĩ năng làm bài. Học sinh ham học hỏi, tự tin trình bày vấn đề,
trao đổi tích cực trong quá trình học tập, thảo luận vấn đề được đặt ra.
2.3.2 Hạn chế
- Trong quá trình giảng dạy một số
giáo viên chưa đầu tư sâu về chuyên môn. Một số ít giáo viên còn lúng túng trong việc dạy học theo hướng tiếp cận
nội dung sang dạy học tiếp cận năng lực.
- Một bộ phận không nhỏ học sinh
không thích học Văn, sợ học Văn dẫn đến hiệu quả của việc học còn thấp.
- Trang thiết bị phục vụ cho môn
học chủ yếu là SGK, SGV. Hệ thống cơ sở vật chất hỗ trợ phục vụ cho việc dạy và
học bộ môn như: tranh ảnh, tài liệu tham khảo tham khảo chưa phong phú.
3. Giải pháp thực
hiện để nâng cao chất lượng điểm trung bình thi THPT năm 2025 và những năm tiếp
theo
Để nâng cao chất lượng điểm trung bình
thi THPT môn Ngữ Văn trong năm học 2025 và những năm tiếp theo cần có những
giải pháp sau:
3.1. Đối với tổ
chuyên môn
- Trên cơ sở cấu trúc đề thi của
Bộ GD&ĐT kết hợp với kết quả đã đạt được ở những năm học trước, Tổ chuyên
môn xây dựng kế hoạch dạy học, kế hoạch ôn thi phù hợp với học sinh trường
mình. Phân chia đối tượng học sinh để có phương pháp giảng
dạy phù hơp.
- Tổ CM phải có kế hoạch dạy
riêng cho nhưng học sinh có nguy cơ bị điểm liệt (tăng buổi, ôn luyện kiến thức
nền, thậm chí đặt mục tiêu chống điểm liệt).
- Xây dựng tài liệu ôn thi ngay
từ đầu năm, tài liệu ôn thi được đưa ra thảo luận, góp ý hoàn thiện thành bộ
tài liệu ôn chung cho các lớp.
- Tăng cường việc trao đổi chuyên
môn, rút kinh nghiệm dạy học kể cả việc dạy học phụ đạo, ôn tập.
- Duy trì việc tổ chức thi thử
cho học sinh vào cuối các đợt ôn thi, chấm thi và thông báo kết quả để học sinh
biết, so sánh, tự đánh giá; giáo viên tìm ra những hạn chế của học sinh trong
từng phần kiến thức lấy đó làm căn cứ để điều chỉnh việc ôn tập.
- Đưa chỉ tiêu chất lượng thi
THPT của HS thành tiêu chí để đánh giá thi đua, đánh giá năng lực của CB, GV.
3.2.
Đối với giáo viên
- Giáo
viên bám
sát vào cấu trúc đề thi minh hoạ của Bộ, nhằm tập trung kiến thức và đáp ứng
đúng - đủ - kịp thời để học sinh nắm vững
nội dung và cách thức hoàn thiện bài thi tốt nghiệp với điểm số tốt nhất. Từ
đó, GVBM sáng tạo, linh hoạt hơn trong quá trình giảng dạy đối với hình thức ra
đề kiểm tra đánh giá chất lượng HS và điều phối đa dạng các dạng đề theo cấu
trúc thi tốt nghiệp của Bộ đã hướng dẫn.
- Giáo viên
phải tích cực đổi mới phương pháp dạy học theo mục tiêu của chương trình 2018.
Thay đổi từ cách tiếp cận truyền thống (học sinh học được gì?) sang cách tiếp
cận hiện đại (học sinh làm được gì?).
- Đổi mới
việc thiết kế và chuẩn bị kế hoạch bài dạy: xác định các mục tiêu dạy học về
kiến thức, kỹ năng một cách rõ ràng, chú ý những nội dung có thể phát triển các
năng lực chung khác phù hợp đặc trưng bộ môn.
- Giáo viên
kết hợp vận dụng nhiều phương pháp dạy học mới: vấn đáp, làm việc nhóm, dạy học
theo dự án, phương pháp trò chơi, ứng dụng công nghệ thông tin và phương tiện
dạy học khác nhằm phục vụ hiệu quả cho quá trình dạy học.
- Tích cực
xây dựng kế hoạch bài dạy, ma trận và biên soạn đề kiểm tra qua ngữ liệu ngoài sách
giáo khoa làm tư liệu dạy học, ôn tập cho học sinh. Bản thân mỗi giáo viên cần
chủ động xây dựng kho tư liệu cho mình phù hợp với yêu cầu của chương trình,
phù hợp với đối tượng học sinh từng khối lớp để hoàn toàn chủ động trong việc
chọn ngữ liệu. Tiêu chí lựa chọn ngữ liệu ngoài sách giáo khoa cần phù hợp với
nội dung chương trình học, cần quan tâm các yếu tố tâm lí lứa tuổi, tiếp nhận,
thời gian, độ dài văn bản.
- Giáo viên
có thể trao đổi, giúp đỡ, góp ý, phản biện để có những ngữ liệu chuẩn xác nhất
phục vụ dạy học. Cần thường xuyên tổ chức trao đổi chuyên môn, dạy học, dự giờ
theo hướng nghiên cứu bài học để đúc kết những kinh nghiệm hữu ích trong việc
giảng dạy theo chương trình mới nhất là những ngữ liệu ngoài sách giáo khoa.
- Việc tổ
chức các chuyên đề chuyên môn cũng cần tránh hình thức mà cần tập trung chú
trọng xây dựng Kế hoạch bài dạy, phương pháp dạy học nhằm phát huy tính chủ
động của giáo viên, tính tích cực của học sinh trong giờ học cũng như vận dụng
kiến thức đó vào cuộc sống.
- Việc đổi
mới kiểm tra, đánh giá cũng cần được giáo viên quan tâm đúng mức, bám sát những
mục tiêu, yêu cầu của chương trình để xây dựng ma trận và biên soạn đề kiểm tra
qua ngữ liệu ngoài sách giáo khoa. Cần thay đổi từ đánh giá nội dung sang đánh
giá năng lực, tránh tình trạng học thuộc và sao chép tài liệu có sẵn.
- Cần đa
dạng về hình thức kiểm tra đánh giá, có hệ thống bảng kiểm, tiêu chí, tiêu
chuẩn đánh giá khoa học, tránh “đánh giá nhầm” học sinh. Tuy nhiên, giáo viên
cũng cần lưu ý không gây hoang mang cho người học, không làm nặng thêm yêu cầu
của chương trình, không đặt câu hỏi mang tính đánh đố người học.
4. Đề xuất, kiến nghị
- Sở giáo
dục và đào tạo tổ chức các buổi tham luận về nâng cao chất lượng điểm thi THPT
cho từng môn học theo chương trình giáo dục phổ thông năm 2018.
- Cần thay
đổi hình thức kiểm tra đánh giá định kì môn Ngữ Văn ở lớp 10, 11. Hiện nay theo
văn bản hướng dẫn của Sở môn Ngữ Văn kiểm tra theo hình thức trắc nghiệm kết
hợp với tự luận, bản thân đề xuất việc kiểm tra đánh giá định kì sang hình thức
tự luận 100% ở lớp 10, 11, 12.
Trên đây là một số
kinh nghiệm chỉ đạo trong việc hướng dẫn ôn thi tốt nghiệp môn Ngữ Văn nhằm
nâng cao điểm trung bình môn mà tôi đã áp dụng trong những năm qua và sẽ áp
dụng cho những năm tiếp theo rất mong nhận được sự chia sẻ của đồng nghiệp để
bài tham luận được hoàn thiện hơn và chất lượng điểm trung bình thi tốt nghiệp
THPT ở bộ môn Ngữ Văn được tiến triển hơn.
(Nguồn: Trường THPT Phú Tân)