Tin tức - Sự kiện » Nghiên cứu giáo dục
  Đăng nhập
 Tìm kiếm
Đóng
 Liên kết Email
Đóng


 Nghiên cứu Giáo dục
Đóng
Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giáo viên dạy tiếng Khmer khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

[ Cập nhật vào ngày (03/12/2019) ] - [ Số lần xem: 82 ]

Quá trình phát triển ĐNGV dạy tiếng Khmer ở các trường PTDTNT khu vực ĐBSCL chịu sự tác động của những yếu tố chủ quan và khách quan như: điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, dân tộc, giáo dục, chính trị, pháp luật, bối cảnh. Đây là những yếu tố chủ yếu, có mối quan hệ và tác động trực tiếp đến sự phát triển ĐNGV dạy tiếng Khmer theo chuẩn nghề nghiệp ở các trường PTDTNT khu vực ĐBSCL nói riêng, sự phát triển nguồn nhân lực ngành giáo dục người dân tộc thiểu số nói chung. Việc nghiên cứu làm rõ mối quan hệ và sự tác động của các yếu tố đối với việc phát triển ĐNGV dạy tiếng Khmer, xác định được những nguyên nhân cơ bản cản trở sự phát triển ĐNGV dạy tiếng Khmer làm cơ sở đề xuất giải pháp phát triển ĐNGV dạy tiếng Khmer là yêu cầu khách quan của thực tiễn phát triển giáo dục khu vực ĐBSCL - một trong những thành tố quan trọng góp phần nâng cao dân trí, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nguồn cán bộ người dân tộc; bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.


1.     Mở đầu

          Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm thực hiện trong mọi giai đoạn của cách mạng. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển”, “Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”.  Phát triển ĐNGV (ĐNGV) dạy tiếng Khmer ở các trường phổ thông dân tộc nội trú (PTDTNT) khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có vai trò quan trọng tạo ra chất lượng, hiệu quả, phát huy nội lực, nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực người dân tộc; từ đó, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, nâng cao mặt bằng dân trí; đảm bảo cho giáo dục ở vùng dân tộc phát triển ổn định và bền vững, thực hiện công bằng trong tiếp cận giáo dục của dân tộc Khmer. Do đó, việc nâng cao chất lượng ĐNGV dạy tiếng Khmer các trường PTDTNT thể hiện tính đặc thù là một trong những nhân tố quan trọng góp phần giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.

        Quá trình phát triển ĐNGV dạy tiếng Khmer ở các trường PTDTNT khu vực ĐBSCL chịu sự tác động của những yếu tố chủ quan và khách quan như: điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, dân tộc, giáo dục, chính trị, pháp luật, bối cảnh. Đây là những yếu tố chủ yếu, có mối quan hệ và tác động trực tiếp đến sự phát triển ĐNGV dạy tiếng Khmer theo chuẩn nghề nghiệp ở các trường PTDTNT khu vực ĐBSCL nói riêng, sự phát triển nguồn nhân lực ngành giáo dục người dân tộc thiểu số nói chung. Việc nghiên cứu làm rõ mối quan hệ và sự tác động của các yếu tố đối với việc phát triển ĐNGV dạy tiếng Khmer, xác định được những nguyên nhân cơ bản cản trở sự phát triển ĐNGV dạy tiếng Khmer làm cơ sở đề xuất giải pháp phát triển ĐNGV dạy tiếng Khmer là yêu cầu khách quan của thực tiễn phát triển giáo dục khu vực ĐBSCL - một trong những thành tố quan trọng góp phần nâng cao dân trí, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nguồn cán bộ người dân tộc; bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Yếu tố tự nhiên khu vực ĐBSCL

2.1.1. Điều kiện tự nhiên khu vực ĐBSCL

Vùng ĐBSCL là vùng cực nam của nước Việt Nam, là một bộ phận của châu thổ sông Mê Kông, còn được gọi là Vùng đồng bằng Nam Bộ hoặc miền Tây Nam Bộ hoặc theo cách gọi ngắn gọn là Miền Tây. Vùng ĐBSCL có 1 thành phố trực thuộc trung ương là thành phố Cần Thơ và 12 tỉnh. Tổng diện tích các tỉnh thuộc ĐBSCL là 40.548,2 km², chiếm 12,3% diện tích cả nước và dân số 17.478.900 người [1].

2.1.2. Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến phát triển GV dạy tiếng Khmer ở các trường PTDTNT khu vực ĐBSCL

Điều kiện tự nhiên khó khăn ảnh hưởng đến nguồn đào tạo đội ngũ GVdạy tiếng Khmer khu vực ĐBSCL: Địa hình phức tạp, hệ thống kênh rạch chằng chịt, khoảng cách địa lí lớn, dân cư sống không tập trung, chủ yếu sống định cư dọc theo sông rạch, sinh hoạt theo văn hóa nông nghiệp, sông nước, do đó việc triển khai hệ thống trường PTDTNT ở vùng sâu gặp nhiều khó khăn, chủ yếu các trường PTDTNT chỉ thành lập ở trung tâm tỉnh, thành phố. Chính vì thế, học sinh dân tộc Khmer sau khi học xong THCS khó khăn học tiếp lên THPT ở các trường PTDTNT tỉnh, thành phố. Hơn nữa, các trường PTDTNT tỉnh, thành phố cũng gặp khó khăn về GVdạy tiếng Khmer, khó khăn về số lượng học sinh ít. Hơn nữa, việc đi lại khó khăn ảnh hưởng trực tiếp tới việc giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm của GVdạy tiếng Khmer giữa các trường PTDTNT để bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ.

2.2. Yếu tố kinh tế  khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

2.2.1. Điều kiện kinh tế khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

Kinh tế khu vực ĐBSCL chủ yếu là sản xuất nông nghiệp đang chuyển dịch theo hướng nông, lâm, nuôi trồng thủy sản, dịch vụ chế biến các sản phẩm của nông nghiệp. Thu nhập bình quân đầu người thấp. Thách thức về kinh tế như chuyển đổi cơ cấu chậm; hạn chế về nguồn tài nguyên và lao động có kỹ thuật; cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội thấp; tăng trưởng chưa bền vững và nguy cơ tụt hậu; đầu tư thấp; ngành công nghiệp phát triển thấp, chủ yếu là ngành chế biến lương thực và thủy sản; thị trường xuất khẩu gặp nhiều rủi ro; chất lượng và sức cạnh tranh của các khu du lịch không đồng đều và còn nhiều hạn chế.

Các hoạt động kinh tế của người Khmer: Người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long sinh sống với nghề nông. Canh tác lúa nước là sinh hoạt sản xuất chủ yếu, chiếm hầu hết dân số lao động và đa số diện tích đất canh tác và cung cấp 90% nguồn lương thực thực phẩm cho con người cũng như chăn nuôi gia súc của đồng bào [10].

2.2.2. Điều kiện kinh tế ảnh hướng đến phát triển GVdạy tiếng Khmer ở các trường PTDTNT khu vực ĐBSCL

Những khó khăn về kinh tế, gia đình học sinh không đảm bảo được các điều kiện cần thiết để học sinh dân tộc Khmer học hết THCS hoặc THPT. Những khó khăn về kinh tế dẫn đến thiếu thông tin, thiếu phương tiện tiếp cận thông tin... ảnh hưởng tới việc học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, phương pháp dạy học của ĐNGV dạy tiếng Khmer khu vực ĐBSCL.

Đội ngũ GV dạy tiếng Khmer người dân tộc Khmer khu vực ĐBSCL là người địa phương dù là GV nam hay GV nữ họ đều là trụ cột của gia đình. Khó khăn về kinh tế không chỉ ảnh hưởng đến việc đảm bào sức khỏe mà còn ảnh hưởng tới việc tự học, tự nghiên cứu, nâng cao bồi dưỡng về kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Hơn nữa, ĐBSCL đang trong quá trình phát triển, giao lưu văn hóa mở rộng, nhiều vấn đề về văn hóa - xã hội đang đặt ra, ít nhiều tác động đến nghề giáo. Phần lớn GV dạy tiếng Khmer xuất thân từ nông thôn, quá trình hòa nhập và trở thành trí thức trong nền kinh tế thị trường và hội nhập thực sự là khó khăn.

2.3. Yếu tố xã hội khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

2.3.1. Điều kiện xã hội khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

Ngày nay, tổ chức xã hội truyền thống phum, sóc của người Khmer đồng bằng sông Cửu Long đã lùi vào quá khứ. Tuy nhiên, vai trò và vị trí của sư sãi, Acha vẫn còn quan trọng trong đời sống xã hội của phum sóc. Qua đó, cũng có thể nhận diện sự tồn tại về một thiết chế chính trị xã hội truyền thống của người Khmer trong đời sống của họ. Đây chính là một thiết chế xã hội phi quan phương, nhưng vẫn có sự tương thích nhất định và xã hội hiện đại của người Khmer đồng bằng sông Cửu Long. Hệ thống chính trị xã hội truyền thống của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay không còn chiếm ưu thế.

2.3.2. Điều kiện xã hội ảnh hưởng đến phát triển ĐNGV dạy tiếng Khmer khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

Sự quản lí xã hội của dân tộc Khmer mang tính khép kín trong cộng đồng, cùng với nó là những phong tục lạc hậu như kết hôn sớm, kết hôn cận huyết, cúng ma khi ốm đau, kiêng kị, cấm kị,... kéo theo những hệ lụy như tỉ lệ mù chữ cao, trình độ dân trí thấp, giáo dục bậc cao (THPT) kém phát triển, nên khả năng tạo nguồn đào tạo GVdạy tiếng Khmer tại các trường PTDTNT rất hạn chế. Thêm vào đó, nhận thức của cộng đồng dân tộc Khmer chỉ cần biết cái chữ là đủ, do vậy để có thể phát triển được GVthuộc người của dân tộc Khmer là rất khó khăn. Thực tế nhiều xã khu vực vùng sâu, vùng xa không có người học hết THPT và nguồn đào tạo GVTHPT rất hạn chế.

Trình độ dân chí ở ĐBSCL khá thấp. Đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc Khmer. Dân chí thấp đã ảnh hưởng rất lớn đến cách suy nghĩ, cách tổ chức đời sống và cách làm ăn của người dân và ảnh hưởng đến nhịp độ phát triển KT-XHcủa vùng cả hiện tại đến tương lai.

2.2. Yếu tố dân tộc Khmer khu vực ĐBSCL

2.2.1. Đặc tính của hệ thống xã hội tộc người Khmer

Cơ chế quản lý xã hội truyền thống của người Khmer là sự kết hợp giữa tổ chức tự quản của cộng đồng với những tác động của Phật giáo Nam Tông Khmer Nam Bộ. Sự đan xen đã tạo cho vùng nông thôn Khmer một đặc tính xã hội riêng. Mối quan hệ giữa hai yếu tố trên tạo cho phum, sóc Khmer có một diện mạo khác biệt với làng, xã người Việt.

Xã hội truyền thống của người Khmer là hệ thống đóng của “công xã nông thôn”. Tuy nhiên, sự phát triển của xã hội Khmer trải qua nhiều biến động, tác động từ bên ngoài. Yếu tố truyền thống giảm, hệ thống xã hội tộc người của người Khmer đã và đang có xu hướng mở.

Dân tộc Khmer là một dân tộc ít người có mặt sớm ở đồng bằng sông Cửu Long. Người Khmer đã trải qua nhiều biến động về kinh tế và xã hội. Bên cạnh cơ chế quản lý và vận hành xã hội hiện đại, những thiết chế chính trị xã hội truyền thống vẫn tồn tại và phần nào ảnh hưởng đến quá trình phát triển của tộc người Khmer.

Đối với đồng bào Khmer ở ĐBSCL, Phật giáo Nam Tông Khmer Nam bộ đóng một vai trò quan trọng trong đời sống. Ngôi chùa mang một tình cảm thiêng liêng và sâu sắc. Chùa là biểu tượng tinh thần của cộng đồng dân cư cũng như đối với từng cá nhân trong sóc. Phật giáo còn mang đến cho cộng đồng Khmer những giá trị văn hóa nghệ thuật độc đáo, phong phú và sinh động biểu hiện qua những nét đẹp của phong tục tập quán, lối sống, kho tàng văn hóa dân gian.

Trải qua quá trình phát triển của lịch sử, hệ thống tổ chức xã hội của người Khmer đã có nhiều biến đổi, nhưng một số yếu tố truyền thống vẫn được bảo tồn và phát huy trong cộng đồng.

2.2.2. Sự đa dạng về văn hoá tộc người của người Khmer

Văn hóa vật thể (vật chất): Ẩm thực, trang phục, nhà ở, phương tiện vận chuyểnrất đa dạng và phong phú.

Văn hóa phi vật thể (tinh thần): Phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa dân gian… rất đa dạng và phong phú; Lễ hội và phong tục tập quán của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long thường hòa quyện vào nhau. Ở mỗi nghi thức cụ thể đều có sự đan xen giữa yếu tố tôn giáo và tín ngưỡng dân gian. Các lễ hội của người Khmer gắn với sinh hoạt thường ngày.

Dân tộc Khmer có nhiều phong tục tập quán và vốn văn hóa nghệ thuật rất đa dạng, phong phú. Lễ hội là một phần không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người Khmer vì lễ hội thường gắn với tín ngưỡng dân gian và các lễ nghi tôn giáo. Người Khmer Tây Nam Bộ có khoảng 15 lễ hội thu hút sự tham gia của cả cộng đồng. Các giá trị văn hóa, phong tục, tập quán được người dân, sư sãi Khmer giữ gìn và phát huy.

Như vậy, với sự đa dạng văn hóa, GV cũng nhập thân văn hóa vào vùng đất giàu truyền thống này và đồng thời cũng ảnh hưởng, in sâu vào tính cách, lối sống của người GV. Đây là cơ sở, là nền tảng để xây dựng lối sống có văn hóa trong ĐNGV là điều kiện tốt để phát triển ĐNGV dạy tiếng Khmer khu vực ĐBSCL nếu như biết khơi dậy và phát huy truyền thống của dân tộc; đồng thời là rào cản cho việc phát triển ĐNGV nếu như vẫn chưa thay đổi được nhận thức về giáo dục đối với việc phát triển một dân tộc.

2.3. Yếu tố giáo dục dân tộc khu vực ĐBSCL

2.3.1. Sự phát triển giáo dục dân tộc ở các trường PTDTNT khu vực ĐBSCL

Công tác GD&ĐT cho đồng bào Khmer vùng ĐBSCL cũng đã được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm, với nhiều chính sách được thực hiện như: đầu tư cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học; ưu đãi cho GV phục vụ tại các vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa; có chính sách miễn giảm tiền học phí và hỗ trợ tiền sách vở cho con em các hộ Khmer nghèo hoặc cận nghèo; có chính sách nội trú đối với học sinh, sinh viên học cao đẳng, trung cấp là con em các hộ Khmer nghèo hoặc cận nghèo, với mức hỗ trợ 100% mức tiền lương cơ sở/tháng và các khoản hỗ trợ khác; tổ chức các lớp xoá mù chữ, phổ cập GD; xây dựng các trường dân tộc nội trú; chính sách cử tuyển cao đẳng và đại học…

Tuy nhiên, ĐBSCL lại đang đứng trước nhiều thử thách, bao gồm cả các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu cũng như các áp lực ngày càng lớn của sự phát triển KT-XH. Chính vì vậy, ĐBSCL đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ.

Trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, GD&ĐT khu vực ĐBSCL vẫn chưa đáp ứng tốt, cần có những giải pháp quyết liệt và hiệu quả hơn nữa, nhất là phải phát triển ĐNGV bao hàm cả GV dạy tiếng Khmer, nguồn nhân lực quan trọng, quyết định chất lượng giáo dục và đội ngũ này phải đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và có chất lượng, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.

2.3.2. Hệ thống các trường PTDTNT khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

Năm học 2015-2016, 13 tỉnh/thành phố khu vực ĐBSCL có 361 trường THPT và 113 trường THPT (nhiều cấp); trường PTDTNT (cấp THPT) có 13 trường (trong đó: Trà Vinh có 3 trường, Vĩnh Long có 1 trường, An Giang 1 có trường, Kiên Giang có 1 trường, Cần Thơ có 1 trường, Hậu Giang có 1 trường, Sóc Trăng có 3 trường, Bạc Liêu có 1 trường và Cà Mau có 1 trường); trường PTDTNT (nhiều cấp) có 23 trường (trong đó: Trà Vinh có 7 trường, An Giang có 2 trường, Kiên Giang có 5 trường, Cần Thơ có 1 trường, Hậu Giang có 1 trường và Cà Mau có 1 trường) [2].

Số liệu trường, lớp, HS PT DTNT ở các tỉnh khu vực ĐBSCL năm học 2015-2016: trường PTDTNT cấp THCS có 18 trường, 220 lớp và 7.360 HS; trường PTDTNT cấp THPT có 11 trường, 109 lớp và 3.382 HS. Như vậy, tỉnh có tỉ lệ trường, lớp, HS đông nhất là tỉnh Sóc Trăng (HS DTNT cấp THCS có 6 trường, 64 lớp và 1.978 HS; HS DTNT cấp THPT có 3 trường, 26 lớp và 817 HS) và tiếp đến là tỉnh Trà Vinh (HS DTNT cấp THCS có 7 trường, 50 lớp và 1.532 HS; HS DTNT cấp THPT có 3 trường, 20 lớp và 635 HS) [2].

Xét một cách tổng thể khu vực đồng bằng sông Cửu Long, số liệu trường, lớp và học sinh PT DTNT cấp THPT chiếm tỉ lệ 50% so với số liệu trường, lớp và học sinh PT DTNT cấp THCS.

2.3.2.1. Số lượng GV dạy tiếng Khmer các trường PTDTNT khu vực ĐBSCL

Số liệu GV THPT dạy tiếng Khmer ở các trường THPT DTNT khu vực ĐBSCL ổn định qua hằng năm, tỉ lệ GV nữ dạy tiếng Khmer chiếm khoảng 20% trong tổng số GV dạy tiếng Khmer: Từ năm học 2013-2014 đến năm học 2015-2016 số lượng GV dạy tiếng Khmer ổn định với 22 GV dạy tiếng Khmer. Như vậy, các trường THPT DTNT khu vực ĐBSCL số lượng GV giảng dạy tiếng Khmer cơ bản ổn định tại các trường PTDTNT. Tuy nhiên, đối với GV dạy tiếng Khmer, hiện nay còn hợp đồng, thỉnh giảng nhiều; nguồn đào tạo chưa đáp ứng nhu cầu thực tế đảm bảo GV giảng dạy tiếng Khmer hiện nay. Nguyên nhân chính của việc này là công tác dự báo, quy hoạch phát triển ĐNGV chưa tốt, chưa phù hợp với sự phát triển về quy mô, trường lớp và yêu cầu phát triển của ngành.

2.3.2.2. Chất lượng ĐNGV các trường PTDTNT khu vực ĐBSCL

Tỉ lệ GVtrường PT DTNT theo thông tư số 30/2009/TT-BGD-ĐT năm học 2015-2016 xếp loại xuất sắc, khá chiếm tỉ lệ rất cao (trong đó, loại xuất sắc 142 GV, chiếm tỉ lệ 46,41%; loại khá 163 GV, chiếm tỉ lệ 53,27%; loại trung bình 1 GV, chiếm tỉ lệ 0,33%; không có loại kém).

Như vậy, việc đánh giá, xếp loại GV thực hiện theo quy định chung, áp dụng cho tất cả GVtrong nhà trường PTDTNT. Việc đánh giá, xếp loại GV trường PTDTNT nhằm mục đích phát triển GV trường PTDTNT theo định hướng phát triển nguồn nhân lực của trường PTDTNT chưa được thực hiện.

2.3.2.3. Chất lượng giáo dục trường PTDTNT khu vực ĐBSCL

Về kết quả lên lớp, lưu ban, bỏ học, tốt nghiệp phản ánh chất lượng GD trường PTDTNT khu vực ĐBSCL là vấn đề chất lượng giáo dục ở vùng có đông đồng bào dân tộc còn nhiều hạn chế, bất cập. Với quy mô 3.110 học sinh ở các trường PTDTNT là nguồn đào tạo GVTHPT người dân tộc. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là cần thực hiện tốt công tác hướng nghiệp nghề dạy học để hướng các em lựa chọn nghề sư phạm, đặc biệt quan tâm đến GVdạy tiếng Khmer trong thời gian tới.

2.4. Yếu tố chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta

Dân tộc và công tác dân tộc là cơ sở để ban hành các chính sách dân tộc. Chính sách dân tộc nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực phát triển cùng với sự phát triển chung của đất nước. Chính sách đãi ngộ đối với ĐNGV dạy tiếng Khmer ở các trường PTDTNT khu vực ĐBSCL thực chất những chính sách ưu tiên để phát triển đội ngũ GV người dân tộc thiểu số.

        Chính sách đối với GV dạy tiếng Khmer ở các trường phổ thông dân tộc nội trú khu vực ĐBSCL bao gồm tiền lương, tiền thưởng, chính sách hỗ trợ và những phúc lợi xã hội khác.

Tóm lại, hiện tại GVdạy tiếng Khmer được hưởng các chế độ chính sách như những GVTHPT khác công tác ở các trường vùng dân tộc thiểu số, vùng KT-XH đặc biệt khó khăn, vùng biên giới, hải đảo. Như vậy, chưa có chính sách ưu đãi riêng đối với GV dạy tiếng Khmer ở các trường PTDTNT khu vực ĐBSCL.

2.4.1. Bình đẳng giữa các dân tộc

Bình đẳng dân tộc là quyền ngang nhau của mọi dân tộc, không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ phát triển, màu da, chủng tộc. Quyền bình đẳng giữa các dân tộc được biểu hiện trong tất cả mọi mặt của đời sống xã hội, được đảm bảo bằng pháp lí. Bao gồm quyền bình đẳng về chính trị; quyền bình đẳng về kinh tế; bình đẳng trên lĩnh vực văn hóa xã hội; bình đẳng về cơ hội phát triển cho các dân tộc và đảm bảo các điều kiện để thực hiện quyền bình đẳng.

Các Hiến pháp - Đạo luật cơ bản của nhà nước Việt Nam năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013 đều quy định quyền bình đẳng giữa các dân tộc trên đất nước Việt Nam. Ngoài những quyền chung, Hiến pháp còn quy định riêng về các quyền đối với các dân tộc thiểu số.

2.4.2. Đoàn kết dân tộc

Đoàn kết dân tộc là phát huy truyền thống quý báu của các dân tộc, phát huy sức mạnh dân tộc để giải quyết các vấn đề hiện tại chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội. Kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại để xây dựng cuộc sống mới, xây dựng quê hương đất nước, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các dân tộc trên đất nước Việt Nam.

Những nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta nêu trên tạo ra môi trường chính trị - pháp luật thuận lợi, là điều kiện để thúc đẩy phát triển toàn diện KT-XH vùng dân tộc, trong đó bao hàm cả phát triển đội ngũ trí thức người dân tộc nói chung và đội ngũ GV dạy tiếng Khmer nói riêng.

2.4.3. Chính sách phát triển GVngười dân tộc Khmer

Phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số ổn định và bền vững đặt ra yêu cầu xây dựng ĐNGV người dân tộc đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Nhà nước ban hành nhiều chính sách phát triển nguồn đào tạo GV và chính sách cho GV người dân tộc:

(1) Chính sách tạo nguồn đào tạo.

          (2) Chính sách cử tuyển.

Như vậy, nội dung quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam, quy hoạch phát triển nhân lực ngành giáo dục và đề án phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người DTTS trong thời kỳ mới đều chưa có quy định về vấn đề phát triển đội ngũ GVTHPT người dân tộc.

2.5. Yếu tố môi trường làm việc của GV dạy tiếng Khmer ở các trường PTDTNT khu vực ĐBSCL

   2.5.1. Môi trường nhà trường

         Các trường PTDTNT khu vực ĐBSCL chăm lo xây dựng môi trường làm việc thân thiện, công bằng, không phân biệt, đối xử, kì thị dân tộc. Ban giám hiệu và các tổ chức trong nhà trường đều thực hiện tốt vấn đề dân tộc và công tác dân tộc. Các trường PTDTNT quan tâm xây dựng môi trường đa văn hóa: trường có phòng truyền thống trưng bày sản phẩm các dân tộc (trang phục, dung cụ lao động, khí cụ,…); sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể dụ thể thao, lễ hội,… mang đậm nét dân tộc; GV và học sinh giao tiếp với nhau bằng cả Tiếng Việt hay tiếng dân tộc Khmer. Tinh thần đoàn kết nội bộ ngày càng thắt chặt, chia sẽ, động viên, tương thân, tương ái, khuyến khích lẫn nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công.

2.5.2. Môi trường gia đình

Trong các gia đình dân tộc Khmer, GV giữ vai trò trụ cột cả về kinh tế và văn hóa. Ngoài giờ làm việc ở trường GV phải tham gia thực hiện các hoạt động lao động sản xuất (chăn nuôi, làm ruộng, nuôi tôm, nuôi cá, làm rẫy, tham gia kinh doanh dịch vụ,…). Những khó khăn về kinh tế, những phong tục tập quán ít nhiều cũng tác động đến GV, tạo ra mâu thuẫn ngay trong bản thân GV và phần nào ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả dạy học, giáo dục của GV.

2.5.3. Môi trường xã hội

Giáo viên người dân tộc Khmer phải chấp hành những quy định của pháp luật và quy định quản lý xã hội của chính quyền địa phương, đồng thời còn thực hiện những quy định mang nặng tính truyền thống, phong tục, tập quán của cộng đồng dân tộc người Khmer. Với vị trí, vai trò vừa là GV vừa là thành viên của tộc người, những phong tục, tập quán, truyền thống tác động đến tâm lý, tình cảm của GV trong thực hiện nhiệm vụ dạy học, giáo dục. Trong giao tiếp giữa GV và học sinh dân tộc Khmer, việc sử dụng tiếng Khmer vừa có mặt tích cực, vừa hạn chế. Bởi lẽ khi dùng tiếng dân tộc Khmer để giúp học sinh hiểu rõ, hiểu sâu những nội dung kiến thức; bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, nếu GV lạm dụng tiếng dân tộc Khmer, sử dụng quá nhiều, mọi lúc, mọi nơi thì hạn chế năng lực sử dụng và phát triển Tiếng Việt cho học sinh dân tộc Khmer.

2.6.4. Sự tác động của môi trường làm việc đến phát triển ĐNGV dạy tiếng Khmer khu vực ĐBSCL

Môi trường làm việc của GVdạy tiếng Khmer ở các trường PTDTNT khu vực ĐBSCL được thực hiện theo quy định chung đối với tất cả GV. Với GV người Khmer được các trường ưu tiên hơn về yêu cầu thời gian, về yêu cầu chuyên môn. Tuy nhiên, những vấn đề tồn tại, bất cập của GV dạy tiếng Khmer thì chưa có trường PTDTNT nào có sự quan tâm đặc biệt, chưa có những biện pháp hiệu quả để từng bước khắc phục những tồn tại, đặc biệt là hạn chế về năng lực. Thêm vào đó, nhiều khi còn có sự phân biệt, chẳng hạn những lớp cuối cấp, lớp “chọn” của nhà trường thì những GV người Khmer chưa được bố trí chủ nhiệm cũng như việc tư vấn, hướng nghiệp cho học sinh. Tựu trung lại, môi trường giáo dục đa văn hóa bước đầu đã được hình thành ở các trường PTDTNT và đã khẳng định sự ưu việt của nó trong giáo dục học sinh và động viên, khích lệ GV dạy tiếng Khmer trong dạy học và công tác, từ đó góp phần bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

2.6. Yếu tố bối cảnh

  2.6.1. Bối cảnh thế gii

Ngày nay, thế giới đang có sự thay đổi lớn, cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin và truyền thông, kinh tế tri thức ngày càng phát triển mạnh mẽ, tác động trực tiếp đến sự phát triển KT-XH và nền giáo dục trên thế giới. Chính cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã tạo ra cơ sở cũng như thúc đẩy nhanh hơn, tạo lực mạnh hơn cho quá trình toàn cầu hóa - vốn là một xu thế khách quan trên thế giới. Toàn cầu hóa sẽ tạo ra nhiều cơ hội và thuận lợi to lớn, đồng thời cũng phát sinh nhiều thách thức, khó khăn đối với mỗi quốc gia và sự phát triển giáo dục của mỗi nước.

Sự biến đổi nhanh của thế giới, buộc các quốc gia phải hội nhập để phát triển và sự hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hơn. Con đường để các quốc gia hội nhập và hội nhập có hiệu quả là phát triển GD&ĐT. Bằng giáo dục và thông qua giáo dục để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển. Không những thế nhiều quốc gia đã phát triển mạnh dịch vụ GD&ĐT, đào tạo nhân lực chất lượng cao cho các quốc gia khác. Vì vậy, giáo dục đã trở thành một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển KT-XH của các quốc gia.

  2.6.2. Bối cảnh trong nưc

Thời gian qua, thực hiện Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2020, Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020, Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2011-2020 là những tiền đề cơ bản, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện đổi mới, phát triển sự nghiệp GD&ĐT. Sự phát triển của khoa học và công nghệ, tạo điều kiện cho kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ, biến đổi sâu sắc các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT.

Trong bối cảnh chung đó, phát triển GD&ĐT là chiến lược quan trọng trong chiến lược phát triển đất nựớc. GD&ĐT được xác định là quốc sách hàng đầu, nhằm mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Theo đó, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chi đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở GD&ĐT và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học. Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới. Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điềm, lộ trình, bước đi phù họp.

   2.6.3. Sự tác động của bối cảnh đến phát triển ĐNGV dạy tiếng Khmer khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 đề ra mục tiêu của giáo dục Việt Nam là: “Đển năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập.”

Giáo dục ở vùng DTTS là bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân. Hệ thống giáo dục quốc gia sẽ không đạt được mục tiêu nếu như giáo dục ở vùng DTTS không thực hiện được mục tiêu.

Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục ở vùng DTTS nhằm nâng cao mặt bàng dân trí cho đồng bào DTTS, tạo nguồn đào tạo nhân lực người DTTS đáp ứng nhu cầu nhân lực chất lượng cao để phát triển KT-XH vùng DTTS.

Để thực hiện đổi mới giáo dục vùng DTTS đòi hỏi phát huy các nguồn lực tại chỗ, đặc biệt là nguồn lực con người - ĐNGV và cán bộ quản lí cơ sở giáo dục là người DTTS.

Bối cảnh quốc tế và trong nước vừa là cơ hội, vừa có thách thức đối với phát triển giáo dục ở vùng DTTS, thực tế này đòi hỏi phát triển ĐNGV dạy tiếng Khmer về số lượng, chất lượng và cơ cấu.

          3. Kết luận

Những yếu tố trên là những yếu tố chủ yếu, có mối quan hệ và tác động trực tiếp đến sự phát triển ĐNGV dạy tiếng Khmer theo chuẩn nghề nghiệp ở các trường PTDTNT khu vực ĐBSCL nói riêng, sự phát triển nguồn nhân lực ngành giáo dục người dân tộc thiểu số nói chung. Để có một ĐNGV dạy tiếng Khmer được chuẩn hóa, đáp ứng được yêu cầu mới, giáo dục khu vực ĐBSCL cần phát huy kết quả đạt được, tháo gỡ những khó khăn, khắc phục những tồn tại, yếu kém, tập trung đề ra giải pháp hiệu quả, phù hợp với sự phát triển, đổi mới của đất nước, với tình hình thực tế của khu vực ĐBSCL. Phát triển ĐNGV dạy tiếng Khmer cho khu vực ĐBSCL, cần nghiên cứu các giải pháp để: (1) Phát triển về số lượng ĐNGV dạy tiếng Khmer. Xây dựng chiến lược tạo nguồn đào tạo GV dạy tiếng Khmer. Chiến lược cần quan tâm tỉ lệ về thành phần của các dân tộc tương ứng với tỉ lệ học sinh dân tộc Khmer và tỉ lệ dân số người Khmer trong vùng. (2) Về chất lượng cần đổi mới cả về nội dung, chương trình đào tạo GV dạy tiếng Khmer khu vực ĐBSCL. Đổi mới nội dung, phương thức bồi dưỡng đội ngũ GV dạy tiếng Khmer đang làm nhiệm vụ giảng dạy ở các trường PTDTNT khu vực ĐBSCL. (3) Phát triển ĐNGV dạy tiếng Khmer khu vực ĐBSCL đòi hòi đổi mới công tác quản lí đội ngũ này ở tất cả các khâu từ tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bôi dưỡng, kiểm tra đánh giá.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 [1] Australian Government AusAID (2014), Phân tích hiện trạng nghèo đói ở đồng bằng sông Cửu Long, Báo cáo tổng kết, tr 10.

[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thống kê GD&ĐT (từ năm học 2011-2012 đến 2015-2016.

[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Thông tư 30/2009/TT-BGDĐT, ngày 22 tháng10 năm 2009, Ban hành quy định Chuẩn nghề nghiệp GVTHCS, GVTHPT, Hà Nội

[4] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT, ngày 28/3/2011, Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học, NXB Giáo dục, Hà Nội.

[5] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2016), Thông tư số 01/2016/TT-BGDĐT, ngày 15 tháng 01 năm 2016, Ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của trường PTDTNT.

 [6] Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2001), Nghị định số 05/2001/NĐ-CP, ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc.

 [7] Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2009), “Quyết định số 1581/QĐ-TTg, ngày 09/10/2009 phê duyệt Quy hoạch xây dựng Vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050”.

[8] Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2011), Quyết định số 1033/QĐ-TTg, ngày 30/6/2011, về phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2011-2015.

[9] Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2016), Quyết định 402/QĐ-TTg, ngày 14/3/2016, phê duyệt đề án phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người DTTS trong thời kỳ mới.

[10] Hoàng Thị Lan (2013), Thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng đối với đồng bào Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam.




Lê Hoàng Dự

Xem thêm: Tin tức - Sự kiện


Các ý kiến của bạn đọc





 Quảng cáo
Đóng

 LINK liên kết
Đóng


 Thống kê
Đóng

Người dùng Online: Người dùng online:
Khách: Khách: 84
Members: Thành viên: 0
Tổng: Tổng: 84

Người dùng Online: Lượt truy cập: